top of page

Những điều mình đã áp dụng khi gặp một từ kanji không hiểu nghĩa

3 thg 10
7 phút đọc

“Làm bài đọc mà gặp từ nào không hiểu thì cứ tạm bỏ qua đi”


Có thể mọi người đã từng nghe lời khuyên này ở đâu đó. Mình cũng vậy. Và mình cũng nghĩ chúng mình nên vậy. Vì cứ chăm chăm vào nghĩa của từng từ thì sẽ rất mất thời gian, đặc biệt với những bài có nhiều từ khó.


Nhưng… mọi người biết mà, đúng không? Có những lúc không thể bỏ qua nghĩa của từ được ấy.


Chẳng hạn như, đó là một từ khóa quan trọng trong bài. Là từ mà nó được thêm vào nhằm nhấn mạnh một điều tác giả muốn nói.


Những lúc như vậy phải làm sao?


Mình sẽ chia sẻ những cách mình đã áp dụng. Chúng không đòi hỏi bạn có trình độ tiếng Nhật như thế nào, bởi vì mình đã dùng chúng từ khi còn học N3. Tất nhiên, nếu bạn dùng quen thì các công đoạn suy nghĩ cũng sẽ được rút gọn, dần dà trở thành một thói quen đọc bản năng.


Và tất cả những cách làm này đều có chung một mục đích: dùng CONTEXT (ngữ cảnh) để đoán nghĩa của từ.


Nếu thuần thục được chúng, bạn sẽ… không cần order 10k từ vựng lộn xộn để đọc bài mà không bị “cấn”. Vì trong một bài, một lần bị “cấn” ở từ khó là một lần bị trừ 10 giây. “Cấn” 3-4 lần thì coi như xong.


Ok, vậy cùng tìm hiểu nha.


Tịnh tâm
Lưu ý: Với những bài đọc càng dài, hãy sẵn sàng buông bỏ càng nhiều chữ không biết nghĩa càng tốt. Vì việc suy đoán nghĩa sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian của bạn. Nếu bạn chỉ đang luyện đọc thì không sao.

Cách thứ nhất: Gọi "từ khó" là X


Nếu gặp một từ khó, mà vẫn rất muốn biết nghĩa của từ ấy, hãy tạm gọi nó là X.

Gọi X để làm gì? Để khi nhìn cả một câu bạn vẫn có thể nắm được tinh thần chung của câu văn đó.


Ví dụ: 彼は躊躇せずに川へ飛び込んだ。(giả sử bạn không biết từ 躊躇).


Đọc trong đầu "Anh ấy đã nhảy xuống sông mà không làm X."


Thông thường, để làm một hành động nguy hiểm, người ta phải làm gì nhỉ? Chuẩn bị tinh thần, suy nghĩ đắn đo, để lại di chúc, v.v... Đó là những gì mình có thể nghĩ ra.


Và trong câu này, từ "không X" cộng với hành động "nhảy xuống”. bạn có thể đoán X (chỉ có 2 hán tự ghép lại) là "suy nghĩ nhiều", "chần chừ", "sợ hãi” theo logic câu văn.


Tất nhiên là không cần gán X cũng được. Nếu từ khó là động từ thì có thể tạm gọi là “làm cái gì đó”, là danh từ thì gọi là “cái gì đó”, rồi đoán nghĩa của nó sau dựa vào logic của câu và đoạn văn.


Tuy nhiên ở trường hợp thứ nhất này, từ khó mà bạn gặp sẽ không đóng vai trò chính trong câu. Nên bạn sẽ có hint để đoán. Còn khi nó đóng vai trò chính trong câu thì sao?


Vậy thì đến với cách thứ hai.


Cách thứ hai: Hãy tìm kiếm các hint trong đoạn văn


Cái này đòi hỏi bạn phải đang đọc một đoạn. Nếu đề bài chỉ là một câu lẻ như bài kiểm tra từ vựng thôi thì không áp dụng được.


Trong trường hợp này, vì từ bạn không hiểu là từ khoá chính nên ý nghĩa của nó thường sẽ liên quan với các câu trước hoặc sau.


Chúng ta lại chia nhỏ ra thành các trường hợp như sau:


1. Câu sau có quan hệ bổ sung nghĩa cho câu trước


Dấu hiệu nhận biết cấp độ dễ: có các từ つまり, すなわち, 〜というのは, cấp độ khó: câu trước thường là câu khó hiểu, hoặc chưa đủ thuyết phục.


Ví dụ:

ネット社会は個人から考える力を奪う(1)。皆が何を考えているのかはネットを覗けばわかるという思い込みが、考察する意志を封殺してしまうからだ(2)。

Giả sử mình không biết nghĩa của từ 封殺.


Câu (2) kết thúc bằng 〜からだ (Vì...). Điều này có nghĩa là câu sau (2) đang làm rõ nguyên nhân/bổ sung nghĩa trực tiếp cho kết luận ở câu trước(1). Vì (2) nên có (1).


Bây giờ bạn thử dịch tất cả những từ mình biết trong câu (2), còn từ không biết (封殺) thì cứ để nguyên nhé.


(2): "cái suy nghĩ khăng khăng (思い込み) chỉ lướt mạng là biết thiên hạ nghĩ gì" đã 封殺 lên ý chí tự suy ngẫm (考察する意志).


Cái hành động 封殺 nào mà có thể đem tới một kết quả tiêu cực (loài người mất đi khả năng suy ngẫm) thế bạn iu?


Yes, bạn thấy thêm từ 殺 nữa đúng không. 殺 là cho đăng xuất đó. Vậy thì mạnh dạn đoán nó sẽ có các nghĩa như là dập tắt, bóp nghẹt, triệt tiêu nhé.


2. Câu sau có quan hệ đối nghịch với câu trước


Nếu câu bạn đọc có từ nối với câu trước là しかし, だが, 反対に, thì từ khó ở câu này có thể mang ngữ điệu (ニュアンス) trái ngược với từ ở câu trước. Nếu vế trước mang nghĩa tích cực, từ lạ ở vế sau có thể mang nghĩa tiêu cực (hoặc ngược lại).


Ví dụ:

仮に〇〇そのものの写真を掲載しても、その禍々しさをこれほど適確には伝えきれなかっただろう。その意味でこれは写真家冥利に尽きる一枚と言えた。だが反面、これほど見る者に衝撃と恐怖を与える写真もなかった。

Giả sử mình không biết "冥利に尽きる" nghĩa là gì.


Manh mối 1:  Dựa vào ngữ cảnh câu trước


Tác giả bảo nếu chụp trực diện thì chưa chắc lột tả được hết sự ghê rợn (禍々しさ) chuẩn đến thế. その意味で (Theo nghĩa đó) → bức ảnh này đã truyền tải được điều cực kỳ khó một cách vô cùng tốt. Với một nhiếp ảnh gia, chụp được tấm ảnh như vậy thì sẽ như thế nào?


Manh mối 2:  Dựa vào từ nối tương phản


Vế sau nói: "Nhưng mặt khác, cũng chẳng có bức ảnh nào đem lại cú sốc và sự sợ hãi tột cùng cho người xem đến thế."


Nếu vế sau đã là nghĩa tiêu cực, thì vế trước khả năng cao là nghĩa tích cực.

→ Vậy, có thể suy ra chụp được tấm ảnh như vậy chắc chắn là một cảm giác tự hào và mãn nguyện chăng?


Và chính xác thì đây là nghĩa của từ khoá cần tìm:

「冥利に尽きる(みょうりにつきる)」とは、ある立場や職業にいることで受ける恩恵や喜びが、これ以上ないほど最高潮に達していると感じる状態のことです。(Google)

cảm thấy hạnh phúc, sung sướng và biết ơn vì đạt được đỉnh cao của sự thỏa mãn, vinh dự trong một vai trò, nghề nghiệp hay hoàn cảnh nào đó


3. Kiểu liệt kê


Nếu câu trước / sau là một câu dạng liệt kê, có thể có 例えば hoặc không, thì từ khoá chính thường sẽ dùng để gom các từ được liệt kê lại vào cùng một danh mục chung.


Ví dụ:

偽善者、裏切者、卑怯者ー。それらの蔑称は全て自らの称号となった。

Ở câu này, mình không biết nghĩa của từ 蔑称. Nhưng 3 từ trước là người đạo đức giả, tên phản bội và kẻ hèn hạ thì hiểu nghĩa. Vậy nên, 蔑称 sẽ liên quan gì đấy đến 3 từ này, có thể là một nhóm những kẻ xấu.


Và nếu bạn biết 称 thường được chỉ tên gọi, danh xưng cho một đối tượng, thì có thể suy ra 蔑称 sẽ liên quan đến danh xưng có ý nghĩa xấu, tiêu cực. Biết ngang đấy là cũng đủ nắm được nghĩa của câu rồi ha.


Nếu như bạn thấy không muốn mất nhiều thời gian để suy luận như cách một hoặc cách hai, thì có thể dùng thêm cách thứ ba nha.


Cách thứ ba: Đoán từ dựa vào chữ Hán


Dù không biết cách đọc hay cả nghĩa của từ, bạn vẫn có thể đoán trường từ vựng thông qua hình dáng chữ Hán:


1. Dựa vào bộ thủ


Từ có bộ Tâm (忄/心) chắc chắn chỉ cảm xúc. Từ có bộ Thủy (氵) liên quan đến nước/chất lỏng. Từ có bộ Ngôn (言) liên quan đến giao tiếp/lời nói.


2. Dựa vào một nửa từ ghép


Nếu từ có 2 chữ Hán mà bạn chỉ biết 1 chữ. Ví dụ: 「悪臭」, bạn không biết "臭" nhưng biết "悪" (Ác/Xấu), bạn có thể đoán đây là "một thứ gì đó rất tệ/tiêu cực".


Đó là 3 cách mình đã áp dụng khi đọc tiếng Nhật.


Vì cả 3 cách đều không phải vạn năng, không thể giúp bạn trong mọi trường hợp, nên vẫn cần bạn đọc nhiều và dành thời gian để áp dụng chúng thì mới có thể hiệu quả được.


Mình hi vọng rằng, bạn sẽ để ý hơn đến các mối quan hệ liên kết trong câu thay vì chỉ dừng lại ở mặt chữ.


Việc nhớ từ vựng và chữ Hán rất quan trọng, nhưng đọc hiểu cũng là bài kiểm tra khả năng tư duy logic và xâu chuỗi thông tin. Một từ Kanji lạ không bao giờ là ngõ cụt, trừ khi bạn tự dừng lại ở đó.


Nếu bạn cần thêm các tip học EJU hoặc tiếng Nhật như này nữa thì có thể lên blog của mình, mình có tổng hợp các bài viết ở trên đó nha.


Chúc bạn luôn tìm thấy nhiều niềm vui khi đọc tiếng Nhật!


Your fan,

An


P.S. Những trích dẫn ví dụ được lấy từ cuốn「カエル男」(Người ếch) của nhà văn Nakayama Shichiri.

Bình luận


© 2026 by Thanh & An.

  • Facebook
  • Instagram
  • TikTok
  • Chủ đề
bottom of page